Văn học, nghệ thuật giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập và phát triển.
   (Theo Thời Báo VHNT, 20-03-2023) - Ngày 24.11.1946, Hội nghị Văn hoá toàn quốc lần thứ nhất khai mạc tại Nhà hát Thành phố Hà Nội (nay là Nhà hát Lớn). Hơn 200 nhà hoạt động văn hoá đại diện cho phong trào văn hoá toàn quốc và đại diện Chính phủ, Uỷ ban Thường trực Quốc hội đã đến dự.

    Trong diễn văn khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu nhiệm vụ của nền văn hóa mới: phải lấy sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc làm nội dung phản ánh, sự tự do và hạnh phúc của đồng bào làm mục tiêu hoạt động; phải tiếp thu những kinh nghiệm quý báu của nền văn hóa xưa và nay để xây dựng một nền văn hóa có ba tính chất là dân tộc, khoa học và đại chúng.

Bác Hồ với các nghệ sĩ sau buổi biểu diễn văn nghệ Tết Kỷ Dậu, 1969.

    Trong Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Văn hóa soi đường quốc dân đi. Tôi mong chúng ta đem văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và sáng tạo". Người nêu rõ văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông phương và Tây phương mà chung đúc lại. Người đã đưa ra một câu hỏi: Ta nên theo văn hóa nào? Theo ý Người thì Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hoá Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, văn hóa của thế giới mà trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để khẳng định bản lĩnh của dân tộc mình và hòa hợp với thế giới dân chủ (bản tin tường thuật của báo “Cứu quốc” số 416 ra ngày 25.11.1946). Với văn học, nghệ thuật, đó chính là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt từ thời điểm lịch sử ấy đến nay: hãy giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc để hội nhập và phát triển.

    Để có một quan niệm đầy đủ, toàn diện về văn hóa quả không phải là điều đơn giản. Có rất nhiều quan niệm đã được đưa ra vì mỗi cá nhân, mỗi tác giả lại đứng trên một góc độ khác nhau để nhìn nhận về văn hóa. Có người cho rằng văn hóa gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính chất một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.

    Cũng có người cho rằng văn hóa, theo nghĩa rộng, là toàn bộ đời sống tinh thân của xã hội, gồm tám lĩnh vực: tư tưởng, đạo đức, lối sống; giáo dục đào tạo; khoa học, công nghệ; văn học, nghệ thuật; giao lưu văn hóa; thông tin đại chúng; thể chế văn hóa; đời sống văn hóa. Nghĩa hẹp gồm nếp sống, lối sống; văn học, nghệ thuật; thông tin đại chúng; xuất bản báo chí; phong tục tập quán; đạo đức xã hội và chuyên ngành nghiệp vụ văn hóa.

    Văn hóa được hiểu theo những góc độ tiếp cận khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuạt, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa".

    Như vậy, lao động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa. Để trở thành văn hóa đích thực thì những sáng tạo đó phải hướng về các giá trị nhân văn, hoàn thiện nhận thức, nhân cách con người. Các giá trị quý báu đó góp phần làm nên bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, dân tộc.

    Cốt lõi của văn hóa là bản sắc văn hóa dân tộc. Từ xưa đến nay bản sắc văn hóa dân tộc làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng người Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió, thác ghềnh tưởng chừng không thể vượt qua để không ngừng phát triển và lớn mạnh. Đó là điểm tựa vững chắc để chúng ta đến với thế giới. Tính dân tộc là yếu tố cấu thành bản chất nhất của văn hóa. Bản sắc dân tộc của văn hóa là những cái tiêu biêu nhất của văn hóa, những giá trị bền vững của dân tộc. Đó là cái chủ yếu nhất, nổi bật nhất, là những tinh hoa của cộng đồng văn hóa Việt Nam và đó cũng là cái riêng, độc đáo nhất, bản chất nhất. Ta có thể nhận ra cái riêng ấy trong nếp sống, cách ăn mặc, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, kho tàng văn hóa dân gian...

    Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc được vun đắp nên trong lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, hình thành qua nhiều thế hệ, nhiều nấc thang biến đổi, phát triển. Vì thế nó kết tinh những gì đặc sắc nhất, đẹp đẽ nhất, độc đáo nhất của các cộng đồng dân tộc Việt Nam, nó có giá trị bền vững, trường tồn cùng thời gian, nó như chất keo kết nối cộng đồng người gắn bó với nhau để cùng tồn tại và phát triển. Biểu hiện cụ thể của nó là: lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tình thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình- làng xã-Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống...

    Văn hóa - dân tộc là hai phạm trù khác nhau nhưng liên quan chặt chẽ với nhau vì sự khác nhau giữa các dân tộc là sự khác nhau về văn hóa. Bản sắc mỗi dân tộc được thể hiện tập trung ở bản sắc văn hóa của chính dân tộc đó. Mặt khác, chính đời sống văn hóa và giá trị tinh thần của một dân tộc là dấu hiệu để đánh giá nền văn hóa đó ở trình độ nào, thuộc các cộng đồng nào trên thế giới. Như vậy, đánh mất bản sắc riêng là đánh mất dân tộc.

    Qua giao lưu hội nhập, nền văn hóa nước ngoài song song tồn tại cùng văn hóa các dân tộc Việt Nam. Dân tộc không đồng nghĩa với quá khứ, nó vẫn không ngừng tiếp thu những cái mới để làm phong phú cho mình, tuy nhiên cái bản chất, tinh hoa thì không bao giờ được thay đổi, mà phải được gìn giữ, vun đắp. Đó là khí phách, tâm hồn, bản lĩnh dân tộc, là cơ sở để dân tộc ta hòa nhập với tiến trình giao lưu quốc tế mà không tự đánh mất mình.

    Di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm, toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc đã sáng tạo, để lại, lưu giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ. Nó có thể là di sản văn hóa phi vật thể (tiếng nói, chữ viết, diễn xướng, lễ hội, lối sống...), cũng có thể là văn hóa vật thể (di tích lịch sử văn hóa, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia...).

    Di sản văn hóa tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Sự đa dạng, giàu có của di sản văn hóa Việt Nam không chỉ bởi dân tộc ta đã có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước, không chỉ bởi nước ta hội tụ sự đa sắc văn hóa của 54 tộc người... mà còn là bởi mỗi vùng miền, mỗi tộc người đều cố gắng bảo tồn sắc thái văn hóa, những truyền thống văn hóa lâu đời của riêng mình để góp chung vào kho tàng di sản văn hóa của dân tộc và nhân loại. Di sản văn hóa của từng tộc người, của cả dân tộc cần được bảo tồn, cần được làm sống dậy tiềm năng to lớn của nó để góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Ảnh minh họa

    Trong nhiều năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ở những quy mô khác nhau. Hàng loạt di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng đã được công nhận, tu bổ, tôn tạo. Rất nhiều di vật, cổ vật đã được bảo vệ, các lễ hội truyền thống được tổ chức như lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới của đồng bào các dân tộc thiêu số vùng cao Quảng Nam, hoặc lễ cầu ngư, rước cộ, lễ cầu Ông... của người Kinh.

    Đã diễn ra nhiều cuộc liên hoan nghệ thuật dân tộc như ví giao duyên của đồng bào Nguồn huyện Minh Hóa, liên hoan nghệ thuật cồng chiêng, liên hoan nghệ thuật múa tung tung Za Zá của người dân tộc Cơ Tu, nhạc cụ dân tộc thiểu số trong gia tài văn hóa của người Vân Kiều như khèn Aman, kèn Pi, đàn Tin Tùng, đàn Plựa, Sui và các loại trống to, trống dài, trống nhỏ, hoặc trò chơi Lô tô, bài Chòi của người Kinh...

    Riêng tỉnh Lạng Sơn đã có khoảng hơn 340 lễ hội lớn nhỏ khác nhau cùng những làn điệu dân ca, dân vũ, trò vui đặc sắc diễn ra trong các lễ hội, ngày vui như: hát then đàn tính; hát SLi, hát Cò Lẩu (dân tộc Nùng); hát Lượn, hát Quan Làng (dân tộc Tày); hát xắng Cọ (dân tộc Sán Chỉ); múa sư tử, múa võ dân tộc, trò sĩ-nông-công-thương trong lễ hội Lồng Tồng, thi nấu món ăn dân tộc; nghề nhuộm chàm, thêu, dệt thổ cẩm... và nhiều loại hình di sản văn hóa phi vật thể khác...

    Những thành tựu nổi bật trong xây dựng, phát triển văn hóa Việt Nam thời gian qua là: văn hóa đã được Đảng, Nhà nước quan tâm đúng mức trong các chính sách kinh tế- xã hội; quan hệ biện chứng giữa văn hóa với con người và những đặc trưng của văn hóa, đặc tính của con người Việt Nam được xác định đầy đủ hơn; vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và trách nhiệm của các đoàn thể chính trị-xã hội, của nhân dân, đặc biệt của đội ngũ trí thức đối vơi sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa được đề cao.

    Hệ thống thể chế, thiết chế văn hóa từng bước được tăng cường. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, từng vùng, miền được kế thừa và có bước khởi sắc, nhất là trong điều kiện hội nhập, giao lưu văn hóa với thế giới. Nhiều di sản văn hóa được bảo tồn, tôn tạo; xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng mở rộng. Văn học, nghệ thuật có bước phát triển mới; nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được quan tâm đầu tư gìn giữ; nhiều tác phẩm về đề tài cách mạng và kháng chiến, về công cuộc đổi mới có chất luợng tốt. Truyền thông đại chúng phát triển nhanh cả về loại hình, quy mô, lực lượng, phương tiện và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống xã hội.

    Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đã khơi dậy được nhiều giá trị nhân văn trong cộng đồng; giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều sắc thái mới. Bởi vậy, nhũng năm qua, đời sống văn hóa, tính thần của nhân dân từng bước được cải thiện, bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên.

Ảnh minh họa

    Chương trình cấp quốc gia về sưu tầm văn hóa phi vật thể, về tổng kiểm kê di sản văn hóa, về chống xuống cấp và tôn tạo di sản do ngành văn hóa thực hiện; Chương trình Bảo vệ Hoàng thành Thăng Long; Chương trình Sưu tầm Sử thi Tây Nguyên, Nhã nhạc Cung đình Huế, Không gian Cồng chiêng Tây Nguyên, Ca trù và Quan họ Bắc Ninh... do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện là những công việc có tính định hướng, có hiệu quả, đáng trân trọng, được đẩy mạnh và mở rộng.

    Không chỉ quan tâm giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mà nhân dân ta còn tiếp thu những tinh hoa của nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thu thành quả trí tuệ của loài người.

    Từ đó sáng tạo nên một nền văn hóa mới: kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế. Chiếc áo dài truyền thống có những nét cách tân trong kiểu dáng, hoa văn trang trí. Nhiều bài hát lấy chất liệu từ dân gian nhưng lại được phối theo những thể loại nhạc hiện đại: pop, hiphop, rock... tạo nên sự hấp dẫn cho người nghe. Con người Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ vẫn giữ được nét giản dị, thuần hậu lại cực kỳ thông minh, nhanh nhẹn, khả năng phán đoán và nắm bắt xã hội hết sức nhạy bén trước nhịp sống phương Tây. Bên cạnh những phong tục đẹp của ngày tết hay những lễ hội truyền thống, người Việt Nam vẫn nô nức tham gia những sinh hoạt văn hóa vốn của phương Tây như Noel, ngày lễ tình yêu Valentine, lễ hội hóa trang Haloween...

    Những năm gần đây, chúng ta cũng đã triển khai nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật của các nước tại Việt Nam, trong đó có một số hoạt động lớn, có tính quốc tế như Liên hoan phim châu Á-Thái Bình Dương, Tuần phim châu Âu, Festival Huế, Tuần lễ, văn hóa Nga ở Việt Nam, Triển lãm văn hóa-nghệ thuật ASEAN, các trại điêu khắc quốc tế... Nhiều văn bản hợp tác quốc tế về văn hóa với các nước và với các tổ chức quốc tế được ký kết và triển khai thực hiện. Đây là một bước phát triển mới, mở ra triển vọng lớn để Việt Nam trở thành một địa chỉ văn hóa quen thuộc của sự giao lưu văn hóa giữa các nước trong khu vực và quốc tế.

    Tuy vậy, nhiệm vụ mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa vẫn còn một số mặt yêu kém, bất cập. So với yêu cầu và đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, hội nhập và giao lưu quốc tế, công tác này chưa đáp ứng được đầy đủ và chưa phát huy mạnh mẽ tiềm năng văn hóa vốn có của dân tộc. Số công trình, tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị của ta được giới thiệu ra quốc tế còn quá ít, trong khi đó một lượng khá lớn sản phẩm văn hóa độc hại, không phù hợp vói văn hóa và đặc tính , con người Việt Nam của nước ngoài lại "xâm nhập" nước ta. Trong giao lưu và hợp tác văn hóa, còn có biểu hiện thiếu chủ động, nhiều sơ hở trong quản lý. Hoạt động giúp cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết về đất nước, về văn hóa Việt Nam chưa đạt yêu cầu và sự mong đợi của đồng bào.

    Lẽ dĩ nhiên, hướng tới bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta cũng cần có cách nhìn nhận công bằng. Sẽ sai Tâm khi cho rằng những gì của dân tộc trong quá khứ đều là những cái tốt, cái hay, cái đẹp mà không có những hạn chế, yếu kém. Tìm về bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta cũng cần đánh giá cho đúng những cái xấu, yếu kém đó để phê phán, khắc phục.

Ảnh minh họa

    Từ thực tiễn của đất nước, Đảng ta cũng đã nhìn nhận đánh giá thực tại của đất nước về văn hóa và các giá trị văn hóa, con người Việt Nam: đó là sự xuống cấp khá nghiêm trọng về đạo đức xã hội trong một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ; đó là sự thờ ơ, vô cảm, thiếu quan tâm, chia sẻ với cộng đồng, thiếu trách nhiệm với xã hội; tư tưởng ngại lao động, thích hưởng thụ, chạy theo lối sống thực dụng; lợi dụng văn hóa để hoạt động mê tín dị đoan, để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

    Sự thật là, trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, không ít người còn dao động về chính trị, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, phủ nhận thành quả của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Một số người mơ hồ, bàng quan hoặc mất cảnh giác trước những luận điệu thù địch, xuyên tạc, bôi nhọ chế độ ta. Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân, vị kỷ... đang gây hại cho thuần phong mĩ tục của dân tộc, không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức quyền.

    Giáo dục-đào tạo cũng có những mặt tiêu cực: việc coi nhẹ giáo dục đạo đức thẩm mĩ và các bộ môn chính trị, khoa học xã hội- nhân văn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái đạo lý trong quan hệ thầy trò; lối sống thiếu lý tưởng, ăn chơi, nghiện ngập... ở một bộ phận sinh viên, học sinh,.

    Đời sống văn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập. Trong sáng tác, lý luận và phê bình có lúc nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng kháng chiến. Xu hướng thương mại hóa, chạy theo những thị hiếu thấp kém làm chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm mĩ của văn học, nghệ thuật suy giảm. Một số ngành nghệ thuật như điện ảnh, sân khâu, đặc biệt là sân khấu truyền thống còn gặp nhiều khó khăn. Việc giáo dục thẩm mĩ, thị hiếu nghệ thuật cho thanh niên, thiếu niên... chưa được coi trọng. Nhiều cơ sở in, quảng cáo, quán ăn, khách sạn, sàn nhảy... mở tràn lan, chạy theo đồng tiền, hoạt động tùy tiện, không tuân thủ những quy định của pháp luật.

    Trong khi môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mĩ tục thì tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ. Ví dụ, trong lĩnh vực điện ảnh, theo thống kê năm 2017 của Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), trong 8 năm (2010-2017), Việt Nam sản xuất và phát hành 250 phim truyện nhựa.

    Trong khi đó, các rạp chiếu phim của ta đã nhập khẩu và phát hành 1.101 phim nước ngoài. Như vậy, số phim nước ngoài trình chiếu tại các rạp ở Việt Nam gấp 4,4 lần so với phim Việt Nam. Phim nội "lép vế" trước phim ngoại từ nhiều năm nay trở thành nỗi quan ngại không riêng của những người làm điện ảnh nước nhà. Cũng trong 8 năm ấy, thống kê của Cục Hợp tác quốc tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho thấy, Việt Nam mới xuất khẩu được 469.163 đơn vị văn hóa phẩm (sách, ảnh, tạp chí, lịch, tranh, ảnh các loại, đĩa CD, DVD...) nhưng đã phải nhập tới 3.916.237 đơn vị văn hóa phẩm từ nước ngoài, tức là gấp hơn 8,3 lần.

    So với các lĩnh vực khác, việc đầu tư phát triển và thành quả trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng, còn dàn trải. Điều đó đã làm cho đời sống văn hóa, tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mĩ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đạt hiệu quả chưa cao. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích. Đáng chú ý là hệ thống thiết chế văn hóa, cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp.

    Để khắc phục những hạn chế, yếu kém, tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, trước hết cần phải thấy mỗi một giá trị văn hóa là thành quả của một quá trình sáng tạo lâu dài. Ở đó, con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hóa, vừa là đối tượng thụ hưởng, cũng vừa là một sản phẩm văn hóa, Chính vì lẽ đó, phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng con người văn hóa đang là xu thế tất yếu hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa". Đồng thời, trong mọi sự phát triển, dù ở tầm cao hay chiều sâu, thì điều cốt lõi vẫn là chất lượng. Phát triển văn hóa cũng vậy, thậm chí càng quan trọng hơn khi mọi sự phát triển muốn đạt chất lượng và sự bền vững, nhất thiết phải có nội dung văn hóa. Chính vì lẽ đó, việc xây dựng các chính sách phát triển văn hóa từ tầm vĩ mô đến vi mô, phải phản ánh được những giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc.

    Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia các hoạt động văn hóa, đặc biệt là phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Phát hiện và biểu dương kịp thời các gương điển hình, các cá nhân, tập thể có những đóng góp tiêu biểu cho việc xây dựng đời sống văn hóa. Tập trung xây dựng các huyện điểm, thị xã, thị tứ văn hóa ở các địa phương. Chú trọng đầu tư xây dựng và phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa, phát triển và nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng, ấp, khu phố văn hóa. Phát huy tinh thần sáng tạo của nhân dân, tìm tòi, áp dụng những mô hình thích hợp cho hoạt động văn hóa từng vùng, miền.

    Cần chú trọng bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, bản sắc và truyền thống dân tộc. Coi trọng sưu tầm, khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Tiếp tục tổ chức ngày hội văn hóa của một số dân tộc thiểu số có bản sắc văn hóa tiêu biểu nhằm nâng cao ý thức giữ gìn và tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Gìn giữ các tác phẩm nghệ thuật, bảo vật, cổ vật và di vật có giá trị đặc sắc. Nâng cao chất lượng các tác phẩm văn học; nghệ thuật công trình văn hóa, có kế hoạch đầu tư cho khâu sáng tác kịch bản, dàn dựng chương trình, vở diễn, đào tạo tài năng nghệ thuật; tổ chức các cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học, nghệ thuật để có những tác phẩm đỉnh cao, các chương trình nghệ thuật hấp dẫn, có tính giáo dục tư tưởng thẩm mĩ cao phục vụ nhân dân, đẩy lùi các hoạt động tiêu cực trong hoạt động văn hóa.

    Cần tích cực xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa lành mạnh. Phát triển xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Huy động các nguồn lực và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham gia hoạt động văn hóa, nghệ thuật, quản lý và bảo vệ di tích, di sản văn hóa. Nâng cao chất lượng và mở rộng diện phổ biến các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân; làm cho văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoàn thiện hệ giá trị mới của con người Việt Nam.

    Cần đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ cho ngành văn hóa, nhất là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ văn hóa là người dân tộc thiểu số. Đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở cần phải được tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng mạnh hơn nữa mói đủ khả năng đáp ứng yêu cầu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ mới, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước.

    Văn hóa khắc họa bản sắc và phương thức tồn tại của một cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có một đặc thù riêng. Như vậy, văn hóa mang bản sắc dân tộc. Và yếu tố dân tộc là yếu tố quyết định nhất của một nền văn hóa. Bản sắc văn hóa dân tộc là cái "hồn", là sức sống nội sinh, là cái thẻ căn cước của mỗi dân tộc, để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, từ đó nó có thể biểu lộ một cách trọn vẹn nhất sự hiện diện của mình trong quá trình giao lưu và hội nhập.

    Điều mấu chốt để bảo tồn được bản sắc dân tộc là phải vừa chú trọng giữ gìn, vừa bồi đắp, nâng tầm bản lĩnh văn hóa, trí tuệ dân tộc để có đủ khả năng nhận diện, lọc bỏ những " virus văn hóa ngoại lai" độc hại đang hằng ngày, hằng giờ tác động, thẩm thấu vào xã hội; đồng thời luôn thích ứng cởi mở với các nền văn hóa khác, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để không ngừng làm giàu văn hóa cho dân tộc mình.

    Phải khắc sâu, thấm thía lời Bác Hồ dạy: Phương Tây hay phương Đông có gì hay, có gì tốt ta phải học lấy, song điều cốt yếu là "đừng biến ta thành kẻ bắt chước", vì theo Bác: "Cái gốc của văn hóa mới là dân tộc". Gốc có vững, cây mới bền. Giữ được cái gốc dân tộc của văn hóa, đó cũng là cơ sở vững vàng để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và cũng là thành trì chắc chắn để bảo vệ nền văn hóa dân tộc trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay.

    Đề cao truyền thống, bản sắc dân tộc nhung không tự bó mình vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiển cận. Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa chủ nghĩa chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế trong lĩnh vực văn hóa. Người đề ra chủ trương kế thừa, bảo tồn truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại.

    Nội dung tiếp thu nền văn hóa nhân loại là rất toàn diện. Trước hết là tiếp thu cả đông, tây, kim, cổ, tìm mẫu số chung của nền văn hóa trên thế giới. Tiêu chí tiếp thu là tiếp thu cái hay, cái tốt, tiếp thu có chọn lọc, tiếp nhận những cái phù hợp với thuần phong mĩ tục đất nước, loại bỏ sự ảnh hưởng của những thứ phản văn hóa. Tính toàn diện còn thể hiện ở việc tiếp thu nhiều mặt: tư tưởng Khổng giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo, văn hóa châu Âu, chủ nghĩa Marx-Lenin, ngoài ra còn tiếp thu nền nghệ thuật, âm nhạc, hội họa...

    Chính vì thế phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, lấy văn hóa dân tộc làm gốc, giữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc và coi nó như một tấm lá chắn vững chắc để đi tới tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại. Tiếp thu văn hóa nhân loại không có nghĩa là bê nguyên xi một cách thô thiển, có vay mà không có trả. Phải học tập một cách sáng tạo chứ không phải chạy theo sau thiên hạ một cách kệch cỡm; phải từ tầm cao của tinh hoa nhân loại mà vươn lên cao hơn, từ đó, bằng thành tựu của mình góp phần làm giàu thêm, phong phú thêm kho tàng nhân loại; tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tốt, cái đẹp để làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc, biến chúng thành những cái bên trong, tự nhiên như những yếu tố nội sinh của văn hóa Việt Nam.

Ảnh minh họa

    Ngoài ra, trong quá trình tiếp thu, học tập kinh nghiệm, phải chú ý đến đặc điểm của dân tộc mình, nêu không sẽ phạm phải sai lầm, giáo điều. Do đó, những người làm văn hóa, văn nghệ phải có kiến thức, phải chịu khó học hỏi, trau dồi, mở rộng kiến thức, am hiểu văn hóa thế giới, có như thế mói có thể tiếp thu cái hay của văn hóa xứ người và quảng bá văn hóa của mình. Chúng ta đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giói, xây dựng hình ảnh một đất nước Việt Nam thân thiện trong mắt bạn bè quốc tế, đồng thời tiếp thu những giá trị văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến của nhân loại phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Bản sắc văn hóa dân tộc đã trở thành cơ sở để liên kết xã hội và liên kết các thế hệ tạo nên sức mạnh tình thần của cả dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử.

    Đứng vững trên cái nền dân tộc để chiếm lĩnh, tiếp thu những giá trị văn hóa bên ngoài, bản lĩnh đó của dân tộc Việt Nam đã được thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm qua. Trước xu thế toàn cầu hóa của thế giới hiện nay, không một quốc gia nào có thể phát triêh trong sự tách biệt với thế giới. Hội nhập kinh tế giao lưu về văn hóa giữa các nước đang diễn ra hết sức sôi động. Nhưng nếu không có một bản lĩnh vững vàng, một chiến lược phát triển đúng đắn thì việc giao lưu đó sẽ dẫn đến nguy cơ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Nền tảng có vững chắc, bản lĩnh có vững vàng mơi tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại một cách đúng đắn, mới chủ động, tự tin hội nhập và làm giàu thêm, sáng lên đặc trưng văn hóa dân tộc.

    Thực tế cho thấy, trong bối cảnh toàn cầu hóa, không ít quốc gia trên thế giới đã phải trả giá cho việc quá chú trọng phát triển kinh tế mà coi nhẹ văn hóa, quá quan tâm nhu cầu phát triển hiện tại mà lãng quên đi văn hóa truyền thống, di sản, bản sắc văn hóa của dân tộc. Để tận dụng được những thuận lợi, vượt qua những thử thách của bối cảnh, vấn đề đặt ra là phải có được những định hướng và giải pháp, nhằm thích ứng với xu thế toàn cầu hóa văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại thế giới, trên cơ sở bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội bền vững.

    Có thể nói, đây không những là một nhiệm vụ cụ thể mà còn là định hướng, giải pháp trong việc nghiên cứu, xây dựng và phát triển đời sống văn hóa, giữ gìn truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Phải đứng vững trên quan điểm phủ định biện chứng để kế thừa có chọn lọc, loại trừ yếu tố lạc hậu, bổ sung yêu tố mới, tiến bộ, phù hợp vơi sự phát triển của cuộc sống. Yếu tố hiện đại giúp văn hóa truyền thống thích nghi với sự phát triển, đồng thời nó đáp ứng được nhu cầu văn hóa ngày càng tăng lên của dân tộc. Bản sắc văn hóa dân tộc phải đứng vững trên đôi chân của mình để tiếp nhận các yếu tố hiện đại, làm cho các yếu tố hiện đại gia nhập và trở thành yếu tố văn hóa truyền thống.

    Phát huy các giá trị văn hóa, con người Việt Nam là một nội dung quan trọng của đời sống xã hội, có vị trí, vai trò ảnh hưởng sâu sắc trong sự hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân, sự vững chắc của cộng đồng và rộng hơn là sự phát triển của quốc gia. Văn học, nghệ thuật hướng tới nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để hội nhập và phát triển phải là mục tiêu xuyên suốt, góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng tinh thần xã hội vững mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

                                                PGS. TS. Đoàn Đức Phương

Kết quả tìm kiếm
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 22
  • Trong tuần: 431
  • Tất cả: 1689342